Câu lạc bộ Sinh viên Tâm Lý

Jean Piaget sinh ngày 9-8-1896 ở Thụy Sĩ, mất ngày 16-09-1980. Ông là một chuyên gia về tâm lý trẻ em nổi tiếng chưa từng nhận một bằng đại học Tâm lý nào. Sự quan tâm chính của ông trong lĩnh vực Tâm lý đó là nghiên cứu về những yếu tố sinh học ảnh hưởng đến quá trình hiểu biết của chúng ta.

Trong khi đang làm việc tại phòng thí nghiệm của A.Binet ở Paris ông đặc biệt quan tâm đến tư duy của trẻ em. Ông phát hiện ra rằng những câu trả lời của trẻ em thường có xu hướng có nội dung khác hơn so với những đứa lớn hơn chúng. Điều đó gợi cho ông rằng những đứa trẻ không hề ngốc nghếch mà chỉ là những sự giải đáp về những thắc mắc của chúng khác biệt hơn những đứa bạn cùng tuổi vì chúng có suy nghĩ khác nhau. Một trong những đóng góp quan trọng, đánh dấu tầm ảnh hưởng của ông trong lĩnh vực Tâm lý học Phát triển nói riêng và Tâm lý học nói chung, là thuyết Phát sinh Nhận thức (Piaget’s Theory of Cognitive Development).

Chủ Đề Bài Viết: Thuyết nhận thức của piaget

Thuyết Phát sinh Nhận thức của Piaget có 2 nội dung chính:

  • Quá trình phát sinh nhận thức
  • Các thời kì của sự phát triển nhận thức

Quá trình phát sinh nhận thức

Là một nhà sinh học, Piaget quan tâm đến cấu trúc của cơ thể thích nghi với môi trường xung quanh như thế nào (Piaget diễn tả nó như là sự hiểu biết). Hành vi (sự thích nghi với môi trường) đã được kiểm soát, điều chỉnh thông qua các tổ chức thần kinh được gọi là biểu đồ/sơ đồ (schemata, thỉnh thoảng được gọi là schemes hoặc là schema): khái niệm này mô tả về những phản ứng hướng dẫn có tính tổ chức. Chúng ta là những sinh thể luôn có nhu cầu sắp xếp, tổ chức. Khi tính năng nhu cầu này không được đảm bảo, chúng ta sẽ rơi vào trạng thái bối rối, lo lắng. Biểu đồ giúp chúng ta ổn định và như thế chúng ta có thể xử lí nhanh vì các phương án được truy cập bởi những quyết định được tạo ra một cách nhanh chóng.

Piaget giả thuyết rằng những hoạt động schemata ngay từ lúc đứa trẻ vừa sinh ra là những phản xạ (reflexes). Cũng như những loại động vật khác các phản xạ có chức năng kiểm soát hành vi trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên với loài người, trẻ em sử dụng những sự phản xạ này để thích nghi với môi trường xung quanh và những phản xạ này nhanh chóng thay thế theo cấu trúc của schemata.

Piaget mô tả có hai quá trình mà mỗi cá nhân sử dụng để cố gắng thích nghi với môi trường:

  • Đồng hóa (assimilation): quá trình tiếp nhận thông tin mới bằng sự hợp nhất nguồn thông tin mới với các cấu trúc có sẵn mà không làm thay đổi chúng.
  • Dị hóa/điều ứng (accommodation): sự thay đổi một cấu trúc tinh thần để thu thông tin mới vào. Dị hóa ngược lại là sự thay đổi các biểu đồ đã có để tích hợp kinh nghiệm cũ và kinh nghiệm mới.

Phần lớn các tình huống học tập có sự tác động qua lại của hai quá trình: chúng ta giải thích những gì chúng ta trải nghiệm, từ đó chúng ta biết được kinh nghiệm mới có phù hợp với kinh nghiệm cũ hay không, chúng ta phân biệt và nghiên cứu những khác biệt đó (Piaget, 1950). Ví dụ: quá trình học lái xe với động cơ năm phân khối, nếu trước đây anh điều khiển xe có hộp số tự động, anh sẽ đồng hóa các vô lăng, van hơi và phanh xe, và đồng thời thực hiện sự điều ứng để điều khiển các thanh chuyển số và liên kết chúng. Sự phát triển bình thường được đặc trưng bởi sự cân bằng giữa đồng hoá và điều ứng.

Các thời kì của sự phát triển nhận thức

  1. Thời kì cảm giác vận động (sensorimotor)

Xem Thêm: Chỉ cần nhìn đường chỉ tay cũng biết ngay sau này bạn có mấy đứa con

Trong 2 năm đầu đời, trẻ học hỏi thông qua các hoạt động: quan sát, va chạm, ngậm mút. Cơ bản thì ở thời kì này trẻ chưa hiểu được nguyên nhân, ảnh hưởng của những mối quan hệ. Hằng định Đối tượng (Object Permanence) là một phát triển quan trọng, chủ đạo trong thời kì này.

Giai đoạn cảm giác vận động là mầm mống cho sự hình thành trí khôn ở trẻ. Thực chất, trẻ ở giai đoạn này không thể sở hữu trí khôn biểu tượng và thao tác. Trẻ chỉ tiếp xúc với thế giới bên ngoài thông qua vận động và các cảm giác mà chủ yếu là xúc giác và vị giác. Nếu cho rằng từ 0 đến 4 tháng tuổi là giai đoạn phát sinh những phản ứng vòng tròn cấp 1 (hoàn toàn là các phản xạ vô điều kiện để sinh tồn) thì giai đoạn tiếp theo kéo dài đến 1 tuổi là giai đoạn phản ứng vòng tròn cấp 2. Trẻ đã có thể có những vận động tương tác với thế giới bên ngoài một cách có chủ ý. Trẻ biết được sự có mặt của các đồ vật xung quanh, phát hiện thấy sự thú vị hoặc những mối liên hệ của các đồ vật khác nhau. Nếu như trẻ phát hiện ra rằng khi ấn vào bụng con gấu bông, nó phát ra tiếng kêu, trẻ sẽ thấy thích thú vì điều đó và sẽ tiếp tục lặp lại hành động ấn vào bụng con gấu. Những phát hiện đầu tiên này rất quan trọng và có tính khai mở rất lớn đối với trẻ, hoặc trẻ sẽ thích thú khám phá mọi đồ vật xung quanh mà trẻ nhìn thấy được hoặc trẻ sẽ không thể phát triển khả năng vận động cảm giác khi trẻ không có cơ hội tiếp xúc với những gì trẻ không được nhìn thấy. Cần nhấn mạnh thêm rằng trẻ ở giai đoạn này không có hiểu biết về những gì không xuất hiện trong tầm mắt mình, cho nên trẻ chỉ có thể tương tác với những gì trẻ thấy. Nếu ta cho trẻ tiếp xúc với những đồ vật an toàn và sinh động, trẻ có thể phát triển khả năng vận động và tính chính xác của các cảm giác trong trẻ. Hoặc người lớn có thể đặt ra một vài thử thách tương đối đơn giản để trẻ phát huy khả năng vận động của mình (trẻ sẽ với tay để chạm được vào những đồ chơi treo trên đầu nôi chẳng hạn).

Con người cũng vậy, “xa mặt cách lòng” là thành ngữ hoàn toàn phù hợp với trẻ trong giai đoạn này. Những người thường xuyên xuất hiện trước mặt trẻ, yêu thương và âu yếm trẻ thì sẽ để lại ấn tượng khiến trẻ nhớ đến, ngược lại, trẻ sẽ không biết đến sự tồn tại của những người không tiếp xúc thường xuyên với trẻ. Người mẹ ở giai đoạn này đóng vai trò hết sức quan trọng với trẻ, vì vậy mà người mẹ nên có một khoảng thời gian cho trẻ tương đối nhiều để cùng trẻ khám phá những hiểu biết mới thông qua cảm giác và vận động và trên hết là để cho trẻ cảm thấy an toàn, tin tưởng vào khả năng khám phá của mình. Nếu sợi dây liên kết giữa mẹ và con trong giai đoạn này không bền chặt, trẻ sẽ không ý thức được rõ ràng vai trò của người mẹ và có thể sẽ gặp nguy hiểm cũng như cảm thấy thiếu tin tưởng vào thế giới mới mẻ này. Trong quá trình giúp đỡ trẻ khám phá, cần đảm bảo những đồ vật trẻ tiếp xúc phải hợp vệ sinh vì trẻ sẽ có thói quen đưa đồ vật vào miệng hoặc mút ngón tay, cũng cần loại bỏ các tác nhân có thể gây nguy hiểm cho trẻ như các vật sắc nhọn, dễ vỡ, nguồn điện hay các vật có tính chuyển động với tốc độ lớn, vật có nhiệt độ cao… Tuy nhiên, người mẹ cũng như những người xung quanh trẻ cần có những phương pháp phù hợp, tránh việc thỏa mãn tối đa, thậm chí quá mức các nhu cầu của trẻ. Làm như vậy sẽ khiến trẻ phụ thuộc và hình thành các thói quen xấu về sau. Cũng cần phải đặt ra giới hạn cho sự khám phá của trẻ nếu không hành động của trẻ sẽ trở thành phá hoại – cho dù chỉ là vô tình – và sẽ tạo ra tiền lệ xấu cũng như tâm lý không thoải mái ở trẻ và cả phụ huynh.

Lớn thêm một chút, trẻ sẽ đạt đến giai đoạn phản ứng vòng tròn cấp 3. Trẻ sẽ biết cách làm cho những điều thú vị xảy ra, phát hiện được cơ chế vận hành của một số vật dụng đơn giản, ví dụ như lên dây cót cho xe đồ chơi hoặc dùng cây dài kéo đồ chơi lại chỗ mình… Đến 1,5 tuổi, ở trẻ sẽ xuất hiện những hoạt động nhận thức lý tính như ghi nhớ, bắt chước… Trẻ sẽ học được thói quen ngăn nắp của cha mẹ từ những việc nhỏ như xếp đồ chơi, để giày lên kệ… bằng cách làm theo những gì cha mẹ trẻ đã làm. Bắt chước là một trong những cơ chế học tập cơ bản của con người, cho nên, khi trẻ ở giai đoạn này, người lớn cần chú ý đến hành vi và lời nói của mình vì chúng sẽ được lặp lại bởi trẻ nhỏ. Nếu trẻ thường xuyên nhìn thấy hoặc nghe thấy những cử chỉ, lời nói thô tục, lỗ mãng, trẻ sẽ học theo và dần trở nên giống những gì mà người lớn thể hiện. Ngược lại, nếu người lớn là một tấm gương tốt cho con, cháu mình, trẻ sẽ dần tập nhiễm những thói quen tốt đẹp và có xu hướng hoàn thiện chính bản thân mình trong tương lai. Cha mẹ nên tập cho trẻ những đức tính ngăn nắp, tự lập (tự ăn, tự ngủ…)… trong giai đoạn này. Vì nếu để trẻ lớn hơn, sẽ rất khó khiến trẻ bắt chước và vâng lời khi nhận thức và sự chú ý của trẻ đã phân tán sang các đối tượng khác.

  1. Thời kì tiền thao tác (preoperational)

Kéo dài từ 2-7 tuổi. Trẻ sử dụng ngôn ngữ, biểu tượng, bao gồm: chữ cái và con số. Sự duy kỉ (Egocentric) là quá trình phát triển rõ ràng trong thời kì này. Piaget định nghĩa tính duy kỷ là nghĩ về thế giới vật chất và thế giới xã hội theo quan điểm độc nhất của chính mình. Đó là đặc điểm để đánh dấu sự kết thúc của thời kì tiền vận động và sự bắt đầu của thời kì vận động cụ thể. Trẻ cho rằng người lớn sẽ thấy những gì trẻ thấy, nghe những gì trẻ nghe, trải qua những gì trẻ trải qua và hiểu những gì trẻ hiểu. Trẻ luôn cho rằng suy nghĩ và hành động của mình là chính xác nhất. Trong giai đoạn này, có thể trẻ sẽ đòi hỏi những gì trẻ cho là chính đáng nhưng đôi khi nó vượt quá khả năng của cha mẹ hoặc không đúng để được đáp ứng. Nếu tình huống như thế xảy ra, người lớn nên kiên trì giải thích cho trẻ hiểu đòi hỏi của trẻ có hợp lý hay không? Nếu không, nó bất hợp lý như thế nào? Mỗi lần trẻ trình bày hoặc có xu hướng thích thú với một điều gì đó, người lớn nên tập trung hướng trẻ đến những điều tốt đẹp và đúng đắn, tránh để trẻ nhập tâm những suy nghĩ không đúng, không phù hợp vì trẻ cho rằng mình luôn đúng và không để ý đến các yếu tố khác. Nếu người lớn có những phản ứng tiêu cực khi thấy trẻ có những hành động và ý muốn sai trái, trẻ sẽ cảm thấy bất mãn, hoặc không vâng lời và cho rằng người lớn là không đúng, không thương yêu trẻ. Đồng thời khi trò chuyện cùng trẻ, người lớn nên tôn trọng và biết giải thích, chỉnh sửa cho trẻ đúng lúc, như vậy mới có thể hình thành những ý niệm đúng đắn trong trẻ.

Trẻ ở giai đoạn này cũng có những tư duy vô cùng cứng nhắc, trẻ chỉ tập trung vào một hoặc một vài đặc điểm nổi bật mà không để ý đến những điều kiện cơ hữu. Trẻ không biết và không có khả năng áp dụng các định luật bảo toàn. Nếu bạn xếp 5 viên kẹo gần nhau, sau đó tăng khoảng cách của các viên kẹo so với trước, trẻ sẽ cho rằng số kẹo lúc sau nhiều hơn số kẹo lúc đầu. Điều này giải thích cho việc trẻ thường hay bị “đánh lừa” về mặt hình thức: nhiều hơn, lớn hơn, dài hơn… khi đi mua đồ. Trẻ hoàn toàn không quan tâm đến nội dung cũng như chất lượng. Khi những suy nghĩ đó của trẻ thay đổi theo hướng coi trọng chất lượng cái bên trong và sự bảo toàn, trẻ sẽ bước qua một giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, trước đó, cha mẹ không nên quá khắt khe vì tính “chuộng hình thức” ở trẻ, chỉ đơn giản là trẻ không nhận thức được hết những thuộc tính bên trong của sự vật. Cần cho trẻ biết cái gì là tốt và mức độ tương đồng của những sản phẩm khi trẻ đòi mua một món đồ gì đó vì nó “đẹp hơn, to hơn, nhiều hơn” những thứ khác. Trên thực tế, một số đông trẻ ở Việt Nam hiện nay đã được người lớn cho tiếp xúc với tiền (không loại trừ các trẻ ở giai đoạn này). Ở độ tuổi còn quá nhỏ, trẻ sẽ không biết được hai tờ tiền mệnh giá 5,000 có giá trị không lớn hơn một tờ tiền mệnh giá 10,000 đồng. Hoặc trẻ có thể sẽ chấp nhận đổi tờ tiền có mệnh giá 10,000 đồng lấy tờ tiền có mệnh giá 500 đồng vì nó đẹp hơn và màu sắc bắt mắt hơn. Một số bậc phụ huynh sẽ có những phản ứng gay gắt trước những hành động chỉ dựa vào vẻ bề ngoài và cho mình luôn luôn đúng này của trẻ, hoặc trẻ sẽ bị chê cười, trêu chọc… Vì vậy, người lớn nên có những sự hướng dẫn và can thiệp thích hợp khi trẻ có những quyết định về những đồ vật xung quanh trẻ. Cha mẹ cũng không nên cho trẻ tiếp xúc với những sự vật phức tạp và mang tính xã hội chồng chéo (trẻ không biết được dượng – chồng của dì – là con rể của ông bà ngoại và cũng là anh rể của cậu ruột…). Nên hướng trẻ đến những giá trị đạo đức sơ khởi để trẻ nhập tâm những ý niệm đúng đắn ngay từ ban đầu, ví dụ: không nên nói dối, nói dối là không tốt. Nhặt được của rơi nên trả lại cho người mất vì họ sẽ rất biết ơn khi nhận lại được đồ vật của mình. Nên biết lễ phép, biết cảm ơn và xin lỗi, như vậy mới là ngoan và sẽ làm cho những người xung quanh vui lòng…

Trẻ còn có những suy nghĩ không có tính logic. Ví dụ: Nếu khối gỗ A lớn hơn khối gỗ B, khối gỗ B lớn hơn khối gỗ C. Trẻ sẽ không suy luận được khối gỗ A lớn hơn khối gỗ C khi không đem chúng ra so sánh trực tiếp. Trẻ còn ít nhận thức được những vấn đề xã hội phức tạp. Trẻ vẽ hình lên tường với mong muốn tường sẽ “đẹp” hơn nhưng bị mẹ phạt, trẻ sẽ không hiểu tại sao trẻ bị phạt nếu như mẹ không giải thích cho trẻ hiểu rằng làm như vậy là không đúng, không đúng chỗ nào… Khi khám phá ra một khả năng nào đó của bản thân, trẻ sẽ tích cực thực hành nó, và đôi khi không tránh khỏi việc trẻ sẽ phạm lỗi, làm người lớn tức giận. Trẻ cũng sẽ có những hành động và suy nghĩ mà người lớn cho rằng nó “ấu trĩ”. Cho nên, người lớn trong giai đoạn này cần kiên trì trong mối quan hệ với trẻ, cần hiểu rằng trẻ làm vậy là vì trẻ có lý do của trẻ và trẻ cho rằng nó luôn đúng. Cần trò truyện để hiểu trẻ nhiều hơn và tìm ra nguyên nhân chính yếu khiến trẻ thực hiện các hành động không đúng, sau đó hướng trẻ đến các cách làm tốt hơn. Ví dụ trẻ trai sẽ thường hay có những hành vi mạnh mẽ, hay đánh đấm túi bụi, leo lên cao nhảy xuống hay chạy vòng khắp nhà với một thanh gỗ dài và quấn khăn quanh cổ… Trẻ sẽ cho rằng làm vậy trẻ sẽ giống một siêu nhân hay một anh hùng hơn. Phụ huynh cần cho trẻ biết rằng nếu muốn mình giống một anh hùng, trẻ phải ăn uống đầy đủ để thể lực tốt hơn, biết vâng lời người lớn hoặc biết cách giúp đỡ khi người lớn cần… Cũng không nên chê bai trẻ bởi những suy nghĩ không có tính logic trừu tượng. Đến khi bước sang một giai đoạn phát triển mới, trẻ sẽ có những tiến bộ trong tư duy.

Xem Thêm: Random trong Python: Tạo số random ngẫu nhiên

Đầu giai đoạn này, trẻ đã phát triển khả năng ngôn ngữ vượt trội, từ vựng tăng lên, trẻ nói được những câu rành rọt theo đúng ngữ pháp, một số âm khó như “TR”, “OAN”, “OAI”, “OĂT”, “OĂC” cần có nhiều thời gian hơn để học nhưng đều hoàn thành ở cuối giai đoạn này. Người lớn cần nói chuyện, cho trẻ nghe nhạc, đọc truyện cho trẻ nghe để phát triển vốn từ và câu ở trẻ. Tuy nhiên, những yêu cầu quá khó về ngữ pháp sẽ khiến trẻ lúng túng và không có khả năng giải quyết. Đây cũng là giai đoạn thích hợp để khởi sự việc tiếp xúc với ngoại ngữ (phổ biến là tiếng Anh) cho trẻ. Việc học ngoại ngữ ở đây mang ý nghĩa là học một kĩ năng chứ không phải học một kiến thức, nó giống như việc trẻ học tiếng mẹ đẻ, cần cho trẻ tiếp xúc với ngoại ngữ bằng những phương pháp khoa học như cho trẻ nghe nhạc bằng ngoại ngữ, học từ vựng bằng tranh ảnh, xem phim… Các phương pháp này chủ yếu cho trẻ làm quen với dải âm vị của ngoại ngữ trẻ học, có khả năng thực hành các kĩ năng cần thiết. Ở cả tiếng Việt lẫn ngoại ngữ, tránh cho trẻ tiếp xúc với những từ ngữ thô tục, tiếng lóng… Vì trẻ hay bắt chước và rất tích cực phát huy những gì đã học được và không ý thức được điều gì nên và không nên. Trẻ sẽ nhập tâm những điều trẻ tưởng là tốt đẹp và phổ biến nhưng không biết rằng nói tục là xấu.

Trẻ cũng có thể hình thành các biểu tượng, giả vờ hay nói dối, đây là một mối lo ngại đối với nhiều phụ huynh. Nhưng phần lớn, trẻ sẽ chỉ nói dối để bảo vệ mình trước (ví dụ như đổ lỗi việc đánh vỡ chiếc ly cho con mèo). Phụ huynh cần thông cảm trong những trường hợp như vậy, vì trẻ tất yếu sẽ lóng ngóng và vụng về trong những năm đầu đời, không nên la mắng hay đánh đập trẻ mà phải nhẹ nhàng giải thích cho trẻ hiểu nói dối là sai, đứa trẻ nói dối là đứa trẻ không ngoan và sẽ có giao kèo với trẻ về hình phạt như thế nào cho hợp lý mỗi khi trẻ làm sai. Phụ huynh nên khuyến khích trẻ nói sự thật và giữ đúng lời hứa với trẻ, không nên động đến đòn roi mỗi khi trẻ vi phạm. Làm vậy sẽ chỉ khiến trẻ vụng về, nhút nhát và cố chấp hơn mà thôi. Những câu nói như: “Mẹ biết con mẹ rất ngoan, mà ngoan thì không nói dối” sẽ đánh động đến sự xấu hổ trong bản thân trẻ và phần nào khuyến khích trẻ nói sự thật. Nếu nói:“Mẹ mà biết con nói dối là không xong với mẹ đâu!” sẽ khiến trẻ cảm thấy sợ hãi và quyết tâm che đậy sự thật. Tất cả cũng vì lý do trẻ muốn giữ hình tượng ngoan hiền trong mắt người lớn cho nên sự khuyến khích là cần thiết hơn việc đe dọa.

  1. Thời kì thao tác cụ thể (Concrete operations)

Kéo dài từ 7-11 tuổi. Trẻ thể hiện sự hiểu biết theo cách lí luận hơn là những tri giác ngây thơ. Chúng hiểu hơn về nguyên nhân, sự ảnh hưởng của những mối quan hệ. Tư duy thời kì này cũng cụ thể hơn.

Đây là giai đoạn có những sự thay đổi to lớn trong cuộc sống của trẻ khi trẻ làm quen với môi trường học tập ở bậc Tiểu học, vai trò của trẻ trong gia đình, suy nghĩ của cha mẹ về trẻ… đều thay đổi. Trẻ sẽ gặp không ít khó khăn nhưng tư duy của trẻ có sự phát triển mạnh mẽ thông qua hoạt động giáo dục trực tiếp (nếu giáo dục một cách hợp lý và khoa học). Có thể nói, trẻ đã có thể “người lớn hóa” khi ứng xử bằng những mô hình tương tự như người lớn. Các biểu tượng trẻ hình thành trong giai đoạn này không chỉ có tác dụng đơn thuần trong các trò chơi, trẻ có thể hình thành nên tư duy logic từ những biểu tượng đó, khi được cho xem hình con voi và con chuột, trẻ sẽ nhận thức được con voi có sức mạnh lớn hơn con chuột. Trẻ còn hình thành lối tư duy thiên về chất nhiều hơn so với giai đoạn trước, trẻ đã có ý niệm về tính bảo toàn và biết ứng dụng nó. Trẻ biết đến những giá trị thật của các con số, ổn định các khái niệm về độ dài, diện tích, thể tích… trẻ có thể so sánh sự lớn bé của các số có nhiều chữ số. Cha mẹ và thầy cô nên mở rộng những khám phá của trẻ xung quanh sự chính xác của các đại lượng này thông qua thực hành vì đây là những kiến thức hoàn toàn có thể ứng dụng được và rất có ích trong thực tế. Rất có thể, những khám phá này sẽ phần nào xây dựng nên những niềm say mê đầu đời của trẻ trong một lĩnh vực nào đó. Trong những bài dạy về thể tích, giáo viên có thể dùng những hình hộp chứa nước để minh họa. Đối với những đại lượng rất lớn hoặc rất bé, không thể làm sáng tỏ vấn đề với trẻ chỉ bằng giảng bài suông, giáo viên có thể đưa ra những hình thức so sánh, phân tích vấn đề để trẻ hiểu. Giảng dạy một cách trực quan sinh động đối với trẻ trong giai đoạn này là vô cùng cần thiết, cần hơn so với việc hình thành những phép biến đổi trừu tượng. Tuy nhiên, lượng kiến thức để dạy cho trẻ cũng cần có sự cân đối chứ không nên nhồi nhét tràn lan, sự chú ý của trẻ khi mới đi học rất dễ bị phân tán nên cần có sự kết hợp vừa chơi vừa học để trẻ dần làm quen mới không khí học tập.

  1. Thời kì thao tác chính thức (Formal operations)

Bắt đầu từ 12 tuổi cho đến khi trưởng thành. Đầu thời kì này là sự kết thúc của tính duy kỉ. Nét đặc trưng của mỗi cá nhân được thể hiện thông qua những suy nghĩ trừu tượng.Trong thời kỳ này, trẻ có khả năng khái quát hoá các ý tưởng và cấu trúc các điều trừu tượng. Khả năng logic, suy diễn, so sánh, phân loại phát triển hơn. Học sinh 12 – 13 tuổi có thể suy nghĩ và tính toán trong đầu những con số lớn mà không cần đến hiện thân của những con số đó ngoài đời thực, rút ra kết luận chỉ bởi giả thuyết. Đây là khoảng thời gian thích hợp để rèn luyện nhân cách song song với việc tìm hiểu các ngành khoa học cơ bản. Các em có thể tưởng tượng được vũ trụ hay có những mường tượng cụ thể về năm ánh sáng, các em có thể tính toán đến số thập phân thứ 3, biết sự quang hợp của cây cối quan trọng như thế nào và chứng minh được điều đó. Về mặt xã hội, các em có thể suy diễn ra được những gì sẽ xảy ra sau mỗi hành động hay những mối quan hệ xã hội phức tạp, bắt đầu nhận thức rõ ràng về sự mâu thuẫn trong những mối quan hệ (nếu có). Học sinh trong giai đoạn này thường tò mò về các sự vật, hiện tượng và có xu hướng khám phá, giải quyết chúng. Các em sẽ tự phát sinh các hành động và suy nghĩ đôi khi không có nguyên nhân, điều này lí giải cho việc học sinh THCS thường năng động và nghịch ngợm hơn. Cha mẹ và thầy cô nên hướng cho trẻ vào những suy nghĩ và nhận thức đúng đắn, giúp con em mình có những khám phá bổ ích, khuyến khích sự học hỏi trong các em.

Thuyết phát sinh nhận thức của Piaget là thuyết đầu tiên đề cập đến quá trình bên trong của tư duy của con người. Là nền tảng cho những nhà Tâm lý học sau nghiên cứu sâu hơn về quá trình phát triển nhận thức của trẻ. Thể hiện được sự hiệu quả của phương pháp quan sát trong nghiên cứu khoa học. Đồng thời nhấn mạnh được tầm quan trong trong sự “tự khám phá của trẻ”. Mặt khác, thuyết này tập trung nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố tự thân, gia đình, bạn bè mà không nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nền văn hóa, giới tính, động cơ trong khả năng học tập của trẻ.

———-

Xem Thêm: Danh sách những người thắng giải tại The Game Awards 2020

Tham khảo:
Tài liệu sách:
[1] Collete Gray & Macblain. Các lý thuyết học tập về trẻ em
[2] George Zgourides . Developmental Psychology
[3] Grace J.Craig, Don Baucum, Hoàng Mộc Lan dịch. Tâm lý học phát triển
[4] Jean Piaget. Sự hình thành trí khôn ở trẻ em
[5] Nguyễn Văn Đồng. Tâm lý học phát triển
[6] Nguyễn Thơ Sinh. Tâm lý học nhân cách
Các trang web:
[1] http://goo.gl/JFbVKm
[2] http://goo.gl/nejqqv
Tổng hợp nội dung: Lê Thị Thắm – Phan Thủy Ngân

Leave a Reply

Your email address will not be published.